Dữ liệu Văn hóa các dân tộc Việt Nam
14
1
| STT | Mã kỳ | Dân tộc | Khảo tả về văn hoá các dân tộc | Hình ảnh | Video | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2026 | Thái | Tỉnh Sơn La có 12 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó người Thái có dân số đông nhất. chiếm 53,76%, đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng và xây dựng khối đoàn kết các dân tộc trong tỉnh Sơn La có hai ngành Thái đó là: Thai đen và Thái trắng (trong đó người Thai đen chiếm đa số), bên cạnh đó có hai nhóm Thái địa phương: nhóm Thai đen Yên Châu và nhóm Thái trắng ở các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mường La và Mộc Châu Người Thái cư trú hầu khắp 12 huyện, thành phố của tỉnh, có huyện người Thái chiếm đến 70% dân số Người Thai đen tập trung ở vùng cao nguyên, thung lũng, chủ yếu ở thành phố Sơn La và các huyện: Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu Người Thái trắng cư trú dọc theo triền sông Đà, ở các vùng thấp, chủ yếu ở các huyện: Phù Yên, Bắc Yên, Mộc Châu, Quỳnh Nhai và Mường La Họ cư trú ổn định ở các vùng thung lũng, ven các con sông suối, cư trú thành từng bản riêng, các gia đình sống liền kề bên nhau gần gũi và thân thiện | |||
| 2 | 2026 | Mông | Người Mông ở Sơn La có số dân đông thứ 3, sau người Thái và Kinh, chiếm 15,7% dân số toàn tỉnh. Họ cư trú hầu khắp 12 huyện, thành phố nhưng tập trung chủ yếu ở các vùng núi cao thuộc các huyện Bắc Yên, Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La, Sông Mã, Sốp Cộp. Dân tộc Mông sinh sống ở Sơn La có 3 ngành: Mông Hoa (Mông Lềnh), Mông Trắng (Mông Đơ) và Mông Đen (Mông Đu). Người Mông cư trú chủ yếu ở trên các rẻo đồi, núi cao; hình thức tập hợp bản thường theo hình vành khăn từ lưng chừng đồi, núi trở lên. Cũng có một số bản Mông nằm ở thung lũng tương đối bằng phẳng. Theo chính sách Hạ sơn của Đảng và Nhà nước, một số bản Mông đã di chuyển từ các vùng núi cao xuống vùng thấp hơn, thuận tiện cho cuộc sống. Bản người Mông thường có số gia đình ít nhưng diện tích bản lại lớn nên khoảng cách giữa các gia đình trong bản thường khá xa nhau. | |||
| 3 | 2026 | Dao | Dân tộc Dao chiếm ở Sơn La chiếm 1,78% dân số của tỉnh. Người Dao cư trú chủ yếu ở các huyện: Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yến, Mộc Châu, Vân Hồ. Người Dao ở Sơn La có 03 ngành: Dao đỏ, Dao tiền, Dao quần chẹt với những đặc trưng văn hóa khác nhau. Người Dao ở Sơn La chủ yếu cư trú ở vùng cao, tuy nhiên họ định canh, định cư từ khá lâu và có đời sống kinh tế tương đối ổn định.Người Dao ở Sơn La còn bảo tồn nhiều phong tục tập quán truyền thống, các nghi lễ trong nông nghiệp, chu kỳ đời người, nghi lễ của dòng họ, đặc biệt các nghi lễ cấp sắc và Lễ hội Púng Hiéng. Nghi lễ cấp sấc là là một nghi lễ quan trọng không thể thiếu đối với người đàn ông Dao ở tất cả các ngành Dao. Đây là nghi lễ công nhận sự trưởng thành của người đàn ông Dao, mỗi ngành Dao tiến hành nghi lễ cấp sắc theo những nghi thức riêng, nhưng mục đích, ý nghĩa và vai trò của lễ cấp sắc trong đời sống luôn được đề cao ở bất cứ ngành Dao nào. | |||
| 4 | 2026 | Khơ Mú | Dân tộc Khơ-Mú còn có các tên gọi khác như: Xá Côu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềng, Tày Hạy. Tiếng Khơ - Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Mon Khmer. Ở Sơn La, người Khơ Mú sinh sống chủ yếu ở các huyện Sông Mã, Sốp Cộp, Thuận Châu, Yên Châu... Người Khơ Mú ở đây vẫn giữ gìn những nét văn hóa truyền thống có tiếng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, hiện nay ở Sốp Cộp 100% dân số vẫn sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc. Ngoài ra, họ còn sử dụng thành thạo tiếng Thái, Lào. Chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng trọt trên nương rẫy. Phương thức canh tác chính là phát nương và đốt nương làm rẫy. Cây trồng chính là: lúa, ngô, sắn, khoai sọ; các loại đậu, đỗ, bầu, bíhiện nay, người Khơ Mú ở đây đã làm thêm nhiều ruộng nước trồng lúa và thay đổi một số cây trồng: chè, cà phê, cây ăn quảcải tiến phương thức canh tác tăng năng xuất lao động. | |||
| 5 | 2026 | Lào | Dân tộc Lào có mặt ở Sơn La từ rất sớm, chiếm 0,33% dân số toàn tỉnh. Tập trung chủ yếu ở hai huyện Sông Mã và Sốp Cộp. Tiếng nói thuộc ngữ hệ Nam á, ở nhóm ngôn ngữ Tày Thái.Người Lào sống định cư, ở nhà sàn, có mái cao, lòng rộng, kỹ thuật chạm khắc trên cột, kèo, có thêm khuôn viên nhà để làm vườn và trồng các cây gia vị. Người dân chủ yếu làm ruộng nước kết hợp nương rẫy và chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm thủy lợi.Phụ nữ Lào rất giỏi trồng bông dệt vải và thêu thùa. Họ thường mặc váy đen, gấu váy có thêu màu sáng trông bắt mắt và mặc áo ngắn, bó sát lấy thân, với hàng khuy bạc lấp lánh. Người Lào theo đạo Phật. Có tục thờ tổ tiên và nhiều nghi thức tín ngưỡng khác liên quan đến nông nghiệp.Cũng như nhiều dân tộc khác, dân tộc Lào tin vào vạn vật hữu linh. Người dân thờ cúng tổ tiên vào các dịp đầu năm mới. Dân tộc Lào ở Sơn La chịu ảnh hưởng khá nhiều từ Phật giáo. | |||
| 6 | 2026 | Mường | Theo số liệu thống kê năm 2021, người Mường có 21.283 hộ; 89.967 nhân khẩu, chiếm 6,69 % dân số của tỉnh, có dân số đứng thứ 4 toàn tỉnh. Người Mường có nhiều dòng họ, gồm: Đinh (Thế, Công,Văn), Mùi, Bùi, Quách. Người Mường ở Sơn La di cư từ Hòa Bình, Thanh Hóa và Phú Thọ lên, cư trú chủ yếu ở các vùng thấp của huyện Mộc Châu, Phù Yên, Bắc Yên, Vân Hồ và dọc theo sông Đà. Theo sử thi Đẻ đất đẻ nước cho biết thuở sơ khai của loài người, thời kỳ đầu người Mường sống bằng săn bắt, hái lượm. Từ khi có kim loại, người Mường bắt đầu khai hoang trồng lúa nước và các loại cây trồng khác, góp phần tạo ra cuộc sống mới ổn định hơn. Từ đó yếu tố tâm linh, phong tục tập quán thờ cúng tổ tiên, thờ cúng người có công với nước bắt đầu xuất hiện và dần hình thành quan niệm Vạn vật hữu linh cho rằng mọi vật đều có linh hồn, vì vậy con người không bao giờ được để vong hồn rời xa thể xác, có như vậy con người mới khỏe mạnh, phát triển được. | |||
| 7 | 2026 | Xinh Mun | Người Xinh Mun cư trú tại Sơn La thuộc dân tộc ít người (đứng thứ 5 trong tổng 12 dân tộc anh em sống tại Sơn La), hiện chiếm 2,16 % dân số của tỉnh, cư trú chủ yếu ở các huyện: Sông Mã, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, có 02 ngành: Xinh Mun dạ và Xinh Mun nghẹt (trong đó chủ yếu là ngành nghẹt với nhiều nhóm, từ nghẹt 2 đến nghẹt 7) với những đặc trưng văn hóa tương đồng. Người Xinh Mun không có chữ viết nhưng có tiếng nói riêng, một số vùng, người Xinh Mun đã chủ yếu sử dụng tiếng Thái để làm ngôn ngữ giao tiếp, ngôn ngữ mẹ đẻ bị mai một. Nhưng các bản dọc biên giới Việt - Lào, 100% dân số vẫn nói tiếng Xinh Mun, ngoài ra họ còn có thể giao tiếp bằng tiếng Lào, Thái, Mông và Kinh. Họ sống thành từng bản xen kẽ với các tộc người khác như Thái, Khơ Mú, Mông | |||
| 8 | 2026 | La Ha | Dân tộc La Ha cư trú tại Sơn La thuộc dân tộc ít người (đứng thứ 8 trong tổng 12 dân tộc anh em sống tại Sơn La). Người La Ha định cư chủ yếu tại các huyện: Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai. Họ sống thành từng bản xen kẽ với các tộc người khác như Thái, Khơ Mú, Kháng, tuy nhiên để xây dựng nhà máy Thủy điện Sơn La, có 02 bản người La Ha ở Mường La đã di chuyển đến xã Tân Lập, huyện Mộc Châu sinh sống.Trước kia kinh tế chủ yếu của người La Ha là nương rẫy du canh, du cư kết hợp với việc đánh bắt cá, ngày nay sống định canh, kinh tế nương rẫy kết hợp với làm ruộng nước và đánh bắt cá. Nói chung kinh tế của người La Ha ở Sơn La còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao. Ở một số bản di dân tái định cư công trình thủy điện Sơn La, đời sống của bà con đã tương đối ổn định. | |||
| 9 | 2026 | Kháng | Theo số liệu thống kê năm 2019, tỉnh Sơn La có hơn 30 bản người Kháng sinh sống với 1.252 hộ; 6.573 người, chiếm 0,83 % dân số, đứng thứ 9 của tỉnh. Người Kháng canh tác dựa vào nương rẫy, theo lối chọc lỗ bỏ hạt, trồng lúa nếp và trồng ngô. Ngoài ra, do sống chủ yếu dọc theo con sông Đà nên người Kháng có nghề làm thuyền độc mộc, đánh bắt cá trên sông và nuôi cá ở ao, hồ; nuôi thêm gia cầm để cải thiện đời sống và phục vụ các nghi lễ. Khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, người Kháng là một trong 04 dân tộc phải di chuyển dân, nhường đất cho nhà máy và vùng lòng hồ thủy điện với 02 hình thức: một số di vén lên cao, một số di chuyển nội huyện. Hiện nay, người Kháng bảo tồn tương đối tốt bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc như: Tiếng nói, nghệ thuật trình diễn dân gian, phong tục, tập quán, đặc biệt là một số nghi lễ nông nghiệp và nghi lễ của các thầy cúng. |